LƯỢNG LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠM THỜI NHẬN THẺ PR ĐANG TĂNG DẦN

Nghiên cứu mới cho biết việc mở rộng các con đường đến thẻ PR đang giúp tăng số lượng thường trú nhân Canada.

Báo cáo mới của Statistics Canada chỉ ra rằng, ngày càng có nhiều lao động nước ngoài tạm thời đến lưu trú lâu dài tại Canada và có được thường trú nhân,.

Tựa đề “Lao động nước ngoài tạm thời lưu trú tạm thời như thế nào?”. Báo cáo xét đến dữ liệu của 4 nhóm lao động nước ngoài tạm thời (Lao động TFW ) ở độ tuổi từ 18 đến 64, đã nhận giấy phép làm việc giữa năm 1990 và 2009. Cùng nhau, những nhóm trên đã đại diện cho hơn 1.3 triệu người sở hữu giấy phép làm việc.

Trong khi những phát hiện của nghiên cứu cho rằng đại đa số các lao động TFWs đều rời đi trong vòng 2 năm sau khi nhận được giấy phép làm việc đầu tiên. Nghiên cứu cũng nhận định rằng “xu hướng lưu trú lâu dài hơn đã tăng lên ở những đợt mới đến gần đây.”

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng kết luận rằng thời gian lưu trú vẫn được quy định nghiêm ngặt, mặc dù những gì nó nêu ra là “một nhận thức sai lầm phổ biến là cho rằng nước sở tại thường không kiểm soát đầy đủ được thời hạn lưu trú của Lao động TFWs  tại quốc gia này.”

“Thời hạn và dạng lưu trú của Lao động TFWs tại Canada thường bị giới hạn nghiêm ngặt do những quy chế quản lý các điều khoản giấy phép làm việc của họ,” nghiên cứu tiết lộ.

StatsCanTFWs

Để làm việc tại Canada dưới vị trí TFWs, yêu cầu là cần có job offer. Tuy nhiên, có thể lấy PR mà không cần một job offer, chủ yếu thông qua Hệ thống Express Entry của Canada.

Những chính sách giúp Lao động TFWs chuyển đổi sang PR

Báo cáo khảo sát những Lao động TFWs đến Canada thông qua các chương trình hiện được nhóm thành Chương trình Lao động Quốc tế Tạm thời (TFWP) và Chương trình Luân chuyển Quốc tế (IMP)

Những ví dụ về các chương trình theo TFWP gồm Chương trình Lao động Nông nghiệp theo Vụ, Chương trình Chăm sóc Sức khỏe Tại gia và Chương trình Thí điểm Lao động trình độ thấp. Những ứng viên TFWP khác thuộc những chuyên gia tay nghề cao với hợp đồng làm việc ngắn hạn.

Chương trình IMP cũng bao gồm nhiều chương trình khác nhau mà phần lớn đều là các chuyên gia tay nghề cao, bao gồm những chuyên gia làm việc tại Canada theo các hiệp định quốc tế như Hiệp Định NAFTA, dạng chuyển giao nội bộ công ty và người sở hữu giấy phép lao động liên quan đến việc học tập và nghiên cứu như là thực tập sinh y khoa quốc tế.

Nghiên cứu cũng xem xét 4 biến số để tìm hiểu xem, có bất kỳ, tác động của chúng đối với thời gian lưu trú của Lao động TFWs thuộc 2 nhóm này. Những biến số đó gồm những đặc điểm nhân khẩu học của mỗi cá nhân (độ tuổi, giới tính), điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia nguồn gốc, các thành tố thể chế của nước sở tại, như quy chế nhà nước, và những điều kiện kinh tế – xã hội theo vùng và địa phương.

Các chính sách và quy chế của nước chủ nhà được cho là yế tố quyết định cho thời hạn và dạng lưu trú của Lao động TFWs, với việc nghiên lưu ý rằng việc kéo dài thời gian lưu trú của những người mới đến bắt đầu từ cuối thập niên 90 là “phù hợp với sự gia tăng mức phu thuộc của Canada vào Lao động TFWs và những con đường mở rộng đến thẻ PR.”

Con đường đến thường trú nhân

Tuy nhiên, không phải tất cả các chương trình đều giống nhau khi nói đến con đường đến thẻ PR. Nghiên cứu chỉ ra rằng các con đường có xu hướng nhiều hơn cho các lao động tay nghề cao tạm thời.

Nghiên cứu cho biết điều này phản ánh sự thật “hệ thống chọn lọc di trú của Canada sẽ ưu ái những ứng viên với những giá trị nguồn nhân lực như giáo dục, kinh nghiệm làm việc Canada và khả năng ngôn ngữ chính.” Vì thế, những kinh nghiệm mà một TFW đạt được tại Canada có thể được tính vào mức độ phù hợp của một ứng viên theo diện Kinh nghiệm Canada (CEC) cũng như tính theo điểm CRS của hệ thống Express Entry Liên bang. Những kinh nghiệm này cũng được “nhắm” vào một số chương trình Đề cử Tỉnh bang; điều đó cho phép các tỉnh bang và lãnh thổ của Canada đề cử một lượng dân nhập cư mỗi năm.

Trong số những diện TFWP, các ứng viên Chương trình Chăm sóc sức khỏe Tại gia (Live-in Caregiver Program) có thể nộp đơn xin thẻ PR sau 2 năm làm toàn thời gian tại Canada; thế nhưng, những điều kiện này lại không dành cho lao động nông nghiệp theo mùa vụ, mà phải rời đi sau 8 tháng làm việc. Trong khi đại đa số các ứng viên LCP trở thành thường trú nhân vào năm thứ 5 tại Canada, chỉ 2% các ứng viên của SAWP cũng trở thành thường trú nhân vào năm thứ 10 tại Canada.

Nghiên cứu cũng chỉ ra những con đường chính để xin thẻ PR dành cho lao động tay nghề thấp là qua các chương trình đề cử tỉnh bang hoặc lãnh thổ, hay PNPs, để đáp ứng nhu cầu địa phương về nhân lực.

Quốc gia nguồn gốc

Quê quán cũng đóng vai trò chính yếu trong việc xác định thời gian Lao động TFWs lưu trú tại Canada, đối với những lao động đến từ những quốc gia có “trình độ phát triển kinh tế và ổn dịnh xã hội thấp” sẽ lưu trú lâu hơn tại Canada theo diện tạm trú nhân hoặc trở thành thường trú nhân so với những nhân lực đến từ các quốc gia phát triển và ổn định.

Nghiên cứu phát hiện ra rằng đến năm thứ 5 sau khi nhận WP đầu tiên, 42.8% Lao động TFWs từ các quốc gia có GDP trên đầu người thấp có được thẻ PR. Ngược lại, chỉ 7.4 lao động TFWs từ các quốc gia có lượng GDP trên đầu người cao chuyển đổi thành thường trú nhân tại Canada. Việc ổn định xã hội cũng đóng vai trò rất quan trọng trong thời hạn lưu trú, với 37.9% lao động đến từ các quốc gia với sự ổn định xã hội thấp nhận thẻ PR sau 5 năm tại Canada.

Tuy nhiên, nghiên cứu đã kết luận rằng có nhiều điểm khác biệt ở quốc gia nguồn gốc được giải thích như sau; thực tế công dân ở các nước kém phát triển và ít ổn định là nguồn lực TFWs chính của Chương trình Chăm sóc tại gia (LCP), Chương trình Lao động Nông nghiệp Theo vụ (SIWP), và Chương trình thử nghiệm Lao động tay nghề thấp (LSP).

“Lao động TFWs tham gia các chương trình này có xu hướng lưu lại lâu hơn hoặc quay lại sau khi rời khỏi một vài tháng,” nghiên cứu đã chỉ ra.

Các đặc điểm cá nhân, điều kiện kinh tế – xã hội từng vùng được xem là có một mối liên kết “tương đối yếu” với thời hạn lưu trú. Do đó, các lao động TFWs ở “độ tuổi lao động chính (25-44)” thường có xu hướng cao hơn lưu trú lại tạm thời hoặc thường trú so với những ứng viên ở độ tuổi dưới hoặc trên tuổi lao động.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lao động TFWs chuyển sang thường trú nhân nhiều nhất vào giữa năm thứ hai và thứ năm sau khi có giấy phép lao động đầu tiên của họ.

“Sau năm thứ 5, lượng lao động TFWs trở thành thường trú nhân đã vượt qua lượng lao động TFWs vẫn giữ tạm trú, ở hầu hết trường hợp,” nghiên cứu chỉ rõ. “Đến năm thứ 10, những lao động TFWs còn lại hầu hết bao gồm thường trú nhân.”

Nguồn: CICNews

 

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s